Case Study số 4: Xem xét pháp lý về việc vận hành trang thương mại điện tử chính hãng tại Việt Nam
01 - Tóm tắt vụ việc
Công ty XXX cân nhắc xây dựng trang web thương hiệu chính thức để bán trực tuyến sản phẩm mang thương hiệu riêng cho thị trường Việt Nam, thông qua hợp tác với Công ty A - một doanh nghiệp tại Việt Nam. Mô hình có các đặc điểm:
- Tên miền do Công ty XXX sở hữu; Công ty XXX đảm nhận xây dựng và vận hành website
- Chủ thể thực hiện hành vi bán hàng là Công ty A (pháp nhân tại Việt Nam): Công ty XXX bán buôn (xuất khẩu) sản phẩm thương hiệu cho Công ty A → Công ty A bán lẻ cho khách hàng
Mô hình này có thể chịu ảnh hưởng của pháp luật Việt Nam trên nhiều phương diện: bán hàng trực tuyến của doanh nghiệp nước ngoài, bảo vệ thông tin cá nhân, quy định quảng cáo, bảo vệ người tiêu dùng.
02 - Ý kiến pháp lý của luật sư Việt Nam
▶ Vấn đề thứ nhất: Cơ cấu xuất nhập khẩu, bán hàng và điều kiện đầu tư nước ngoài
- Hành vi Công ty XXX xuất khẩu sản phẩm cho Công ty A thuộc hành vi thương mại của thương nhân nước ngoài theo Điều 16 Luật Thương mại - không cấu thành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Do đó, Công ty XXX không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam để xuất khẩu (bán buôn) sản phẩm cho Công ty A.
- Công ty A là doanh nghiệp trong nước - có thể hợp pháp nhập khẩu và bán (bán buôn, bán lẻ) sản phẩm thương hiệu.
- Tùy phân loại sản phẩm, trước khi nhập khẩu có thể cần giấy phép nhập khẩu (ví dụ: mỹ phẩm phải làm thủ tục công bố thành phần trước khi nhập khẩu).
- Với sản phẩm cần giấy phép nhập khẩu: bên nhập khẩu (Công ty A) là bên thực hiện thủ tục - khi đó Công ty XXX phải cung cấp cho Công ty A thông tin (tài liệu) về sản phẩm, có thể bao gồm cả thông tin bí mật. Vì vậy, cần cân nhắc các biện pháp bảo mật thông tin giữa hai bên.
▶ Vấn đề thứ hai: Đáp ứng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi năm 2024)
- Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sửa đổi (hiệu lực từ ngày 1/7/2024), thương nhân nước ngoài cũng được bổ sung vào đối tượng điều chỉnh - Công ty XXX có thể phát sinh một số trách nhiệm nhất định.
- Người vận hành trang thương mại điện tử (Công ty XXX) và người bán hàng (Công ty A) có nghĩa vụ công bố rõ trên website: thông tin sản phẩm, điều kiện bảo hành, đầu mối tiếp nhận khiếu nại, chính sách đổi trả, v.v.
✅ Biện pháp xử lý được đề xuất:
- Công bố rõ trên website: thông tin sản phẩm (xuất xứ, giá cả, điều kiện giao hàng...); chính sách bảo hành (điều kiện đổi trả, miễn trừ trách nhiệm); đầu mối liên hệ (tiếp nhận khiếu nại)
- Quy định rõ trong hợp đồng với Công ty A về nghĩa vụ quản lý, cập nhật thông tin sản phẩm
▶ Vấn đề thứ ba: Cơ cấu hợp đồng mua bán giữa Công ty XXX và Công ty A
Do nội dung điều khoản phụ thuộc vào thỏa thuận riêng giữa hai bên nên phần này xin được lược bỏ.
▶ Vấn đề thứ tư: Các vấn đề khác
【Trang thương mại điện tử và quy định quảng cáo】
- Công ty XXX không có tư cách bán hàng tại Việt Nam và cũng không có tư cách là chủ quảng cáo - chỉ đóng vai trò người cung cấp nội dung quảng cáo
- Trước khi quảng cáo: thực hiện thủ tục thông báo trước nội dung và xin phê duyệt
- Làm rõ mối quan hệ và phân chia trách nhiệm giữa chủ quảng cáo thực tế (Công ty XXX) và chủ quảng cáo trên danh nghĩa (Công ty A)
【Đáp ứng Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân (số 13/2023/NĐ-CP)】
Trong mô hình này, cả Công ty XXX và Công ty A đều thuộc diện bên kiểm soát kiêm bên xử lý dữ liệu cá nhân. Do có xử lý thông tin cá nhân của khách hàng (họ tên, số điện thoại, địa chỉ...), cần thực hiện ba biện pháp chính:
- Hoàn thiện văn bản xin sự đồng ý: nêu rõ mục đích thu thập, nội dung xử lý, cách thức rút lại sự đồng ý (Điều 11 Nghị định)
- Thực hiện đánh giá tác động xử lý dữ liệu (DPIA) và đánh giá tác động chuyển dữ liệu ra nước ngoài: lập trong vòng 60 ngày kể từ khi bắt đầu xử lý dữ liệu và lưu giữ hồ sơ
- Xây dựng và công bố chính sách bảo mật (Điều 27 Nghị định)